Nguy cơ 67% số động vật hoang dã biến mất: Phải làm gì?

Trước viễn cảnh 67% số động vật hoang dã trên hành tinh có thể biến mất, liệu cuối cùng, con người có đủ khả năng ngăn chặn thành công một cuộc đại tuyệt chủng lần thứ 6 hay không? Chưa một ai có thể trả lời được câu hỏi này…

Trái đất từng trải qua năm cuộc đại tuyệt chủng lớn. Cuộc đại tuyệt chủng đầu tiên chấm dứt Đại cổ sinh diễn ra 445 triệu năm trước, do khí hậu đột ngột lạnh xuống. Vào thời điểm đó chưa có sinh vật trên đất liền và khoảng 85% các loài biến mất.

Năm 2016 không có ghi nhận về sự tuyệt chủng của loài động vật nào. Tuy nhiên, nếu chúng ta tiếp tục hủy hoại thiên nhiên như hiện nay, những động vật sau sẽ biến mất mãi mãi.
Lần thứ 2 cách đây khoảng 359 – 375 triệu năm cuối kỷ Devon, khủng hoảng do oxy trong nước bị hạ thấp, đã xóa sạch các nhóm cá chủ chốt trên Trái đất và ngăn chặn các dải san hô ngầm đã hình thành suốt 100 triệu năm.

Cuộc đại tuyệt chủng lần thứ 3 chấm dứt kỷ Pecmi lớn nhất trong lịch sử và ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến hệ sinh thái Trái đất diễn ra cách đây 252 triệu năm, khiến 97% các loài biến mất vĩnh viễn và chỉ còn hóa thạch sót lại.

Trong khi đó, cuộc đại tuyệt chủng thứ 4 diễn ra chớp nhoáng, cách đây 201 triệu năm, đưa khủng long trở thành loài thống trị trên cạn thay vì các động vật lưỡng cư lớn và bò sát giống động vật có vú.

Cuộc đại tuyệt chủng thứ 5, gần đây nhất, xảy ra do một thiên thạch đã đâm vào Trái đất cách đây 65 triệu năm, chấm dứt sự thống trị của loài khủng long trên Trái đất.

Khái niệm về một cuộc đại tuyệt chủng lần thứ 6 ra đời cách nay hơn hai thập kỷ, do nhà cổ sinh học người Kenya Richard Leakey và nhà nhân chủng học người Anh Roger Lewin đề xuất.


Làn sóng biến mất của các loài sinh vật ngày nay liên quan phần lớn đến hoạt động của con người như phá hủy môi trường sống, gây ô nhiễm hay khai thác quá mức.
Nói về hiện tượng này, Giáo sư sinh vật học Rodolfo Dirzo thuộc Đại học Stanford (Mỹ), người đứng đầu nghiên cứu của tạp chí Science, đã đề cập tới một thời kỳ có tên gọi “Anthropocene defaunation”, ám chỉ sự suy giảm số lượng các loài động vật ăn cỏ và săn mồi hàng đầu trên hành tinh do tác động của con người tới môi trường.

Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), từ năm 1970 đến nay, số lượng các loài cá, động vật có vú, chim và bò sát đã giảm trung bình khoảng 58% trên toàn cầu, tức khoảng 2% mỗi năm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, trái đất sẽ có thể mất đến 67% số lượng động vật, đặc biệt là các loài có xương sống, vào cuối thập niên này.

Trong các loài động vật được đề cập, voi là quần thể đáng lo nhất khi số lượng đã giảm 20% trong 10 năm qua. Ngoài ra, cá mập và cá đuối cũng suy giảm 1/3 số lượng do đánh bắt quá mức.

“Đây dứt khoát là tác động của con người. Chúng ta đang đứng bên bờ vực của cuộc đại tuyệt chủng lần 6”, nhà khoa học Martin Taylor của WWF, nói.

Báo cáo của WWF cho biết các hoạt động của con người như phá hủy môi trường sống của sinh vật, buôn bán động thực vật hoang dã, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu là nguyên nhân gây ra sự suy giảm các loài động vật hoang dã.

“Chúng ta chỉ có một hành tinh. Nếu chúng ta hủy hoại nó, chúng ta sẽ bị hủy diệt”, ông Taylor khẳng định. Các chính phủ phải có những hành động khẩn cấp trong việc cắt giảm xả thải cũng như chấm dứt các hành vi hủy hoại thiên nhiên.

Các giải pháp để đối phó với cuộc đại tuyệt chủng thứ 6 này khá phức tạp. Việc con người giảm ngay lập tức tốc độ thay đổi môi trường sống cũng như việc khai thác, bóc lột quá mức các loài động vật sẽ hữu ích, nhưng những giải pháp này cần phải được điều chỉnh phù hợp với từng vùng và từng tình huống cụ thể. Và hơn bao giờ hết, việc nâng cao nhận thức về cuộc đại tuyệt chủng cũng như các hậu quả gắn liền với nó sẽ giúp tạo ra sự thay đổi thiết yếu.

Trong cuốn sách “Đa dạng sinh học và con đường đến cuộc đại tuyệt chủng thứ 6”, tác giả Silvestre Huet nhấn mạnh rằng, cho dù viễn cảnh hủy diệt đang nhãn tiền, nhưng không phải vì thế mà không thừa nhận các nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh thái dưới những hình thức khác nhau. Trong suốt hơn một thế kỷ rưỡi qua, loài người vẫn luôn có những động thái tích cực nhằm giảm thiểu mối đe dọa thường trực từ quá trình công nghiệp hóa lên môi trường tự nhiên, hay thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên cùng hệ thống các công viên sinh thái.

Cũng phải nói rằng một giống loài mất đi có thể rất nhanh chóng, nhưng để “phục hồi lại” thiên nhiên phải mất hàng chục triệu năm, chưa kể tới những ảnh hưởng do các giống loài bị diệt vong gây ra đối với đời sống con người. Liệu cuối cùng, con người có đủ khả năng ngăn chặn thành công một cuộc đại tuyệt chủng lần thứ sáu hay không? Chưa một ai có thể trả lời được câu hỏi này…

Anh Tuấn (moitruong.com.vn/TH theo tin nước ngoài)
Bài viết liên quan